Korea: Thái cực đồ & hoa Mugung

Mặc dù là 2 biểu tượng khác nhau, cả Thái cực đồ và bông hoa Mugung đều tượng trưng cho niềm hy vọng về một sự phát triển vĩnh cửu, một sức sống mãnh liệt và khả năng luôn luôn hồi sinh của đất nước và dân tộc Hàn trên bán đảo Korea. Khi một bông hoa tàn thì một bông hoa khác sẽ nở; khi Âm đạt đến cực hạn thì Dương sẽ bắt đầu xuất hiện.

Korean-Peninsula
Vị trí bán đảo Korea (researchgate.net)

Nhạc nền: https://www.youtube.com/watch?v=4r7dqOCjsmA

1. Lịch sử Korea

Giha2000_27408868
Đàn Quân (단군) (wikipedia.org)

Lịch sử korea bắt đầu khi nước Cổ Triều Tiên (고조전) thành lập năm 2333 TCN bởi vị vua thần thoại Đàn Quân (단군). Tương truyền, con của Thiên Đế Hoàn Nhân (환인) là Hoàn Hùng (환웅) đã từ trên thiên đình giáng phàm, dùng phép biến một con gấu cái thành một người đàn bà xinh đẹp, thụ thai cho bà và từ đó đẻ ra một đứa bé, người mà sau này trở thành vua Đàn Quân.

Từ thế kỷ thứ nhất, 3 nước Cao Câu Ly (Goguryeo), Bách Tế (Baekje) và Tân La (Silla) phát triển và tạo thành thế Tam quốc đến tận năm 676 khi Tân La thống nhất cả 3 nước. Năm 936, nước Cao Ly (고려) thay thế Tân La với tư cách triều đại cai trị Triều Tiên. ‘Cao Ly’ (Goryeo) cũng là nguồn gốc cái tên tiếng Anh ‘Korea‘. Năm 1392, triều Cao Ly bị lật đổ và được nối tiếp bởi triều đại Triều Tiên (Joseon / 조선). Bảng chữ cái Hangul do vua Sejong Đại đế (Thế Tông) phát minh năm 1443. Sejong Đại đế được xem là vị minh quân đưa văn hóa Triều Tiên đến thời kỳ hoàng kim. Triều đại Triều Tiên cũng được cho là triều đại thực sự nắm quyền lâu nhất tại Đông Á trong thiên niên kỷ qua.

Sejong_(Civ_5).jpg
Vua Sejong Đại đế (civilization.wikia.com)

Sau Thế chiến thứ II, như là một trong những kết quả của cuộc Chiến tranh Lạnh, bán đảo Korea bị chia cắt ở vĩ tuyến 38 và trở thành 2 quốc gia riêng biệt là Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên ở miền Bắc theo chủ nghĩa Cộng sản và Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc) ở miền Nam theo chủ nghĩa Tư bản.

Mặc dù đã bị chia cắt vì những lý do về lịch sử, chính trị, nhưng về mặt văn hóa, 2 quốc gia ở bán đảo Korea vẫn chia sẻ chung những di sản truyền thống từ xa xưa. Trong đó nổi bật nhất là biểu tượng Thái cực đồ Taeguk. Ngoài ra, Hàn Quốc còn tỏ ra là đã bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của Korea tốt hơn là Bắc Triều Tiên. Quốc hoa của Hàn Quốc và cũng là biểu tượng quốc gia của chính thể này là một bông hoa 5 cánh được gọi là hoa Mugung (Rose of Sharon trong tiếng Anh). Ý nghĩa tượng trưng của hoa bắt nguồn từ tên của nó trong tiếng Hàn: ‘mugung‘ (무궁) , có nghĩa là ‘sự vĩnh cửu‘ hay ‘sự phong phú vô tận‘.

Emblem_of_South_Korea
Quốc huy Hàn Quốc (wikipedia.org)

2. Thái cực đồ Taeguk

ThaiCucDo.jpg
Thái cực đồ (wikipedia.org)

Taeguk là cách gọi biểu tượng thái cực đồ tại Korea. Thái cực đồ là đồ hình mô tả thuyết Âm Dương trong văn hóa Phương Đông, nó nằm gọn trong một vòng tròn, gồm 2 nửa đối xứng nhau, tượng trưng cho Âm (màu xanh hoặc đen) và Dương (màu đỏ hoặc trắng). Trong mỗi phần đối xứng lại có một chấm tròn có màu đối lập nằm trong đó.

Thái Cực đồ thể hiện rất rõ thuyết Âm Dương trong triết học phương Đông:

  • Trong một tổng thể luôn tồn tại 2 mặt đối lậpÂmDương, 2 mặt đó bù đắp nhau tạo thành một thể hoàn thiện
  • Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, như trong phần màu đỏ có chấm màu đen, và ngược lại. Không có cái gì hoàn toàn Âm cũng như không có cái gì hoàn toàn Dương.
  • Âm thịnh, Dương suy và ngược lại, khi phần màu đen lớn dần thì phần màu đỏ nhỏ dần. Nhưng đến cực thịnh thì sẽ bắt đầu suy, mỗi phần Âm hay Dương khi đạt đến độ cực đại của mình thì xuất hiện yếu tố đối lập ngay tiếp sau đó, và cứ thế tiếp tục đến vô tận.

Kết lại, vòng tròn âm dương này tượng trưng cho sự phát triển tương hỗ lẫn nhau, sự tuần hoàn vĩnh cửu của 2 mặt đối lập của vũ trụ. Như vậy, nếu biểu tượng ngôi sao 6 cánh là sự thể hiện của cân bằng, hòa hợp của các mặt đối lập của vũ trụ trong văn hóa phương Tây, thì Thái cực đồ chính là một biểu tượng có ý nghĩa tương tự như vậy trong văn hóa phương Đông.

taeguk
Cổ vật bằng gỗ hơn 1400 tuổi có chứa biểu tượng taeguk tại mộ Bogam-ri (koreatimes.co.kr)

Taeguk cũng là một biểu tượng truyền thống mà dân tộc Hàn đã sử dụng từ thời cổ đại, vô cùng quan trọng trong tôn giáo và văn hóa Korea. Tại bán đảo này, các biểu tượng taeguk xưa nhất đã được tìm thấy trên các cổ vật vào thời Tam quốc. Một trong số đó là một thanh kiếm cổ có niên đại vào thế kỷ thứ 5 hoặc 6 tại một ngôi mộ cổ của vua Michu nước Tân La, và một đồ tạo tác bằng gỗ tìm thấy tại các ngôi mộ Bogam-ri của Bách Tế tại Naju, tỉnh Nam Jeolla vào năm 2008. Ngày nay, Taeguk thường được gắn liền với truyền thốngbản sắc Korea.

Thai-cuc-do
Thái cực đồ của Chu Đôn Di (qi-encyclopedia.com)

Theo các tài liệu lịch sử thì vào thời nhà Tống tại Trung Quốc, triết gia Chu Đôn Di, một học giả góp phần phát triển nên trường phái Tống Nho, đã chính thức sáng tạo ra biểu tượng Thái Cực đồ. Vào thời Joseon (Triều Tiên), biểu tượng Thái cực đồ của Chu Đôn Di cùng với tám quẻ Bát quái đã được thể hiện trên lá cờ hoàng gia của triều đại này. 

co-joseon
Lá cờ hoàng gia của triều Joseon (wikipedia.org)
Park_Yeong-hyo
Park Yeong-hyo (wikipedia.org)

Đến năm 1882 thì một chính khách dưới thời JoseonPark Yeong-hyo (박영효), đã lần đầu tiên thiết kế một mẫu quốc kỳ chính thức cho triều Joseon và một bán đảo Korea thống nhất, gọi là Taegukgi (Thái Cực kỳ). Park Yeong-hyo đã lấy cảm hứng từ lá cờ Joseon cũ, nhưng đã thay đổi biểu tượng Taeguk với hai màu xanhđỏ đang hòa quyện vào nhau, cùng với đó là lược bớt 4 quẻ Bát quái, chỉ còn lại 4 quẻ Càn 건, Ly 리, Khảm 감, Khôn곤 đại diện cho những yếu tố quan trọng nhất trong vũ trụ quan của phương Đông, với những ý nghĩa tương ứng như sau:

Park-Yeong-hyo
Lá cờ Taegukgi của Park Yeong-hyo (wikipedia.org)
Tên quẻ Tự nhiên Mùa Phương Tứ đức Gia đình Tứ đại
Càn
(건 / 乾)
bầu trời
(천 / 天)
xuân
(춘 / )
đông
(동 / )
nhân
(인 / )
cha
(부 / )
thiên
(천 / )
Ly
(리 / 離)
mặt trời
(일 / )
thu
(추 / )
nam
(남 / )
nghĩa
(의 / )
con gái
(녀 / )
hỏa
(화 / )
Khảm
(감 / 坎)
mặt trăng
(월 / )
đông
(동 / )
bắc
(북 / )
trí
(지 / )
con trai
(자 / )
thủy
(수 / )
Khôn
(곤 / 坤)
trái đất
(지 / )
hạ
(하 / )
tây
(서 / 西)
lễ
(예 / )
mẹ
(모 / )
thổ
(토 / )

3. Hoa Mugung trong tự nhiên

img_201507071053264283
Cuốn ‘Sơn Hải Kinh’ (wukong,com)

Hoa Mugung (hibiscus syriacus) có nguồn gốc từ vùng Tiểu Á, cụ thể là Syria, nhưng lại được phân bố rộng rãi ở Ấn Độ, Trung Quốc và bán đảo Korea. Hoa Mugung đã xuất hiện rất nhiều ở Korea từ thời cổ đại. Ghi chép lâu đời nhất về hoa Mugung là cuốn ‘Sơn Hải Kinh‘, quyển bách khoa toàn thư cổ đại về địa lý Trung Quốc và các xứ sở lân cận, được cho là biên soạn vào trước thế kỷ thứ 2. Trong quyển ‘Hải Ngoại Đông Kinh‘ của sách có ghi rằng:

‘Ở đấy (nước quân tử) có một loại cỏ gọi là cỏ Huân Hoa, buổi sáng sinh ra buổi tối héo tàn’.

Nước quân tử‘ ở đây là chính là Korea, còn ‘cỏ Huân Hoa‘ là chính hoa Mugung.

Hoa Mugung thuộc nhóm hoa dâm bụt, là loại cây rụng lá vào mùa đông. Thân cây cao khoảng từ 2 đến 4m. Thông thường cây nhỏ một ngày nở khoảng 20 bông, cây lớn 50 bông, thời gian hoa nở khoảng 100 ngày trong một năm. Vì vậy, nếu tính ra trong một năm, hoa nở khoảng từ 2000 đến 5000 bông. Hoa nở vào buổi sáng sớm, bắt đầu khép cánh vào buổi chiều và rụng lúc hoàng hôn. Chu trình này được lặp đi lặp lại hàng ngày, việc nở và rụng liên tiếp hàng ngày được xem là đặc tính rất độc đáo của hoa Mugung.

cay-mugung
Cây hoa Mugung (pinterest.com)

Có đến hơn 100 loài hoa Mugung trên bán đảo Triều Tiên, gồm các loại hoa đơn, hoa nửa kép và hoa kép. Dựa vào màu sắc hoa, người ta chia hoa Mugung ra làm 3 nhóm, Dansim (một nhị đỏ), Baedal (hoa trắng), và Asadal (chấm hồng trên rìa mỗi cánh hoa). Nhóm hoa được chọn làm quốc hoa là hoa đơn Dansim.

mugunghwa
Các loại hoa Mugung (mois.go.kr)

Thời Tam quốc, nước Tân La còn tự gọi mình là Geunhwahyang (Cẩn Hoa Chi Hương) nghĩa là ‘đất nước của Hoa Mugung‘. Tại đây còn tồn tại một lực lượng chiến binh tinh nhuệ gọi là Hwarang (Hoa Lang) gồm các thanh thiếu niên trẻ được giáo dục từ rất sớm về nghệ thuật, văn hóa và Phật giáo Korea. Các tài liệu Trung Quốc nhắc đến họ như những chiến binh rất đẹp trai và không kém phần điệu đà khi họ sử dụng rất nhiều mỹ phẩm và phụ kiện để trang điểm. Lịch sử về các Hwarang không được biết đến nhiều trước khi Korea giành độc lập vào năm 1945, sau đó lực lượng này đã mang một tầm quan trọng mang tính biểu tượng đối với Korea.

Hwarang
Poster phim Hwarang: The Poet Warrior Youth, năm 2016 (dramabeans.com)

4. Ý nghĩa của hoa Mugung

hoa-mugung
Loài hoa bất tử của người Hàn (crowdpic.net)

Hoa Mugung là biểu tượng cho tính cách cương quyết bền chí của người Hàn. So với các loại hoa khác, hoa Mugung có sức chịu đựng rất dẻo dai,  nó có thể chống lại được cái loài sâu bọ và kháng lại các thứ bệnh làm tàn lụi cây cối. Nó tượng trưng cho sinh lực mạnh mẽ, sự phát triển không ngừng và sự thịnh vượng của quốc gia. Bản thân từ ‘Mugung’ trong tiếng Hàn đã có nghĩa là ‘sự vĩnh cửu’. Người dân rất yêu mến và chăm sóc cho loài hoa này bởi nó biểu tượng cho những trang sử vinh quang của đất nước cũng như những thử tháchđau khổ mà người dân đã phải trải qua. Cho dù bông này có rụng xuống thì bông khác vẫn sẽ lại nở tiếp, bởi vậy nó còn được xem là biểu tượng của tinh thần bất khuất.

cup-of-hibiscus-tea-surrounded-by-dried-petals
Trà hoa Mugung (pinterest.com)

Ngoài ra, hoa Mugung còn có nhiều công dụng khác: nụ hoa được dùng làm rau, cánh hoaquả được dùng làm thuốc hay pha trà. Với những công dụng và sự hữu ích lớn như thế, hoa Mugung được xem là loài hoa được sinh ra ‘vì con người và giúp ích cho con người‘.

Tình yêu của người Hàn dành cho loài hoa này được thể hiện rõ nét khi những ca từ Hoa Mugung, nở ngàn dặm trên những ngọn núi và bên những dòng sông tươi đẹp’ mở đầu một đoạn điệp khúc trong quốc ca của Hàn Quốc.

co-tong-thong-han-quoc
Cờ Tổng thống Hàn Quốc (wikipedia.org)

Do hoa đã trở thành một phần rất quan trọng của đất nước trong nhiều thế kỷ, Hàn Quốc đã lựa chọn loài hoa này làm quốc hoa sau khi được giải phóng khỏi ách thống trị của phát xít Nhật, tượng trưng cho sự hồi sinh của quốc gia cũng như cánh hoa mugung lại nở sau một đêm trường tăm tối. Các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Hàn Quốc ngày nay đều lấy hoa Mugung làm biểu tượng chính thức.

Tài liệu tham khảo:

Mã văn hóa: Lá cờ Thái cực  – http://thongtinhanquoc.com/ma-van-hoa-la-co-thai-cuc/

Chevailier, D. & Gheerbrant, A. . (2002). Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới. Đà Nẵng

Han Sang-hee. (2010). “Oldest Taegeuk Pattern Found in Naju”. The Korea Times – http://www.koreatimes.co.kr/www/news/art/2010/05/135_46228.html

Joseph, A. .(2014). Reconstructing the Confucian Dao: Zhu Xi’s Appropriation of Zhou Dunyi. SUNY Press

Kim, S. Y. & Ro, Y. C. .(1984). Hanism as Korean mind : interpretation of Han philosophy. Los Angeles, Calif.: Eastern Academy of Human Sciences

Korean overseas information service .(2003). Handbook of Korea (11. ed.). Seoul: Korean Overseas Information Service

National symbols. Seoul city tour – http://www.seoulcitytour.net/English/eng_menu_05_01_5.html

(Nguyễn Đức Vịnh dịch). (2019). Sơn Hải Kinh. Hà Nội: Văn học

Nguyễn Trường Tân. (2017). Tìm hiểu văn hóa Hàn Quốc. Tp. HCM: Thanh niên

Rutt, R. (1961). “The Flower Boys of Silla (Hwarang), Notes on the Sources.” Transactions of the Korea Branch of the Royal Asiatic Society

Shin, C. Y. . (2005). Glossary of key terms. New York: New York University Press

The National Flower – Mugunghwa – https://www.mois.go.kr/eng/sub/a03/nationalSymbol_3/screen.do

 

2 thoughts on “Korea: Thái cực đồ & hoa Mugung

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s