Sudan: Chim thư ký

Thuộc thế giới Hồi giáo và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Ai Cập, Sudan vẫn có riêng cho mình một biểu tượng cực kỳ độc đáo, một loài chim mà tên gọi của nó là sự kết hợp của 2 cung hoàng đạo và hình dáng của nó là sự kết hợp của 2 loài chim khác nhau.

sudan
Vị trí địa lý của Sudan (maphill.com)

Nhạc nền: https://www.youtube.com/watch?v=-HPuQ42vntE

1. Lịch sử Sudan

Sudan là một quốc gia thuộc thế giới Arab tại Bắc Phi. Trước khi Nam Sudan tách ra trở thành một quốc gia độc lập, thì Sudan thống nhất từng là quốc gia có diện tích lớn nhất châu Phi và thế giới Arab. Nằm tại phía Nam của Ai Cập khiến Sudan không thoát khỏi sự ảnh hưởng của nền văn minh rực rỡ này. Ngay từ thời cổ đại, khoảng năm 1500 TCN, vương quốc của người Kush, hay còn gọi là người Nubia, đã phải thần phục các pharaoh, trở thành nguồn cung cấp vàng cho Ai Cập. Nhưng đến năm 750 TCN thì chính người Kush đã chinh phục ngược lại Ai Cập và lập ra triều đại pharaoh thứ 25, còn được gọi là thời đại của các pharaoh da đen. Trong những thế kỷ sau đó thì trong khi Ai Cập đang suy tàn thì Kush lại trở thành nơi bảo tồn nhiều phong tục văn hóa truyền thống của Ai Cập, trong đó có việc xây dựng những kim tự tháp

kim-tu-thap-nubia
Các kim tự tháp Nubia ở Meroe, phía Đông thành phố Khartoum, Sudan ngày nay (wikipedia.org)
Muhammad_Ahmad
Muhammad Ahmad (wikipedia.org)

Sau khi vương quốc Kush sụp đổ, người Nubia lập nên những vương quốc Ki-tô giáo cho đến tận thế kỷ  thứ 6, khi đạo Hồi trỗi dậy và dần lan đến Nubia, trở thành văn hóa chủ đạo tại nơi đây. Đến thế kỷ 19 thì nơi này tiếp tục bị người Ai Cập chinh phục, cho đến khi Mohamad Ahmad lấy danh nghĩa là một Mahdi (một vị cứu tinh Hồi giáo) tiến hành cuộc khởi nghĩa thần thánh đẩy lùi Ai Cập và giành độc lập cho Sudan từ năm 1881 đến 1885. Tuy nhiên, vương quốc này chỉ tồn tại đến năm 1898 khi người Anh đến và cai trị cả Ai Cập và Sudan. Sudan chính thức giành độc lập từ Anh vào ngày 1/1/1956, sau đó lại nổ ra cuộc nội chiến Sudan giữa hai miền Bắc và Nam do những khác biệt về ngôn ngữ, tôn giáo và chính trị. Kết quả là Nam Sudan ly khai và trở thành một quốc gia độc lập vào năm 2011.

Biểu tượng quốc gia của Sudan có thể được thấy rõ trên quốc huy của quốc gia này ngày nay: chim Thư ký (Secretary bird), hay còn gọi là Diều ăn rắn.

quoc-huy-sudan
Quốc huy Sudan ngày nay (wikipedia.org)

2. Chim thư ký trong tự nhiên

chim-thu-ky
Chim thư ký trên các vùng thảo nguyên (wikipedia.org)

Chim thư ký (secretary bird) là một loài chim săn mồi cỡ lớn đặc hữu của châu Phi, chúng thường được tìm thấy trên các cánh đồng cỏ và thảo nguyên rộng lớn của vùng cận sa mạc Sahara.  Mặc dù có đôi chân dài và có dáng đi duyên dáng đặc trưng, chim thư ký lại là một loài có họ hàng gần với những kẻ săn mồi khét tiếng trên bầu trời như chim ưng, diều hâu, ó, đại bàng, chim cắt, kền kền v.v…  đều thuộc bộ Ưng Accipitriformes. Chúng được phân loại thành một họ chim riêng biệt với những đặc điểm vô cùng độc đáo như một thân hình giống như chim săn mồi trên cạn nhưng lại sở hữu đôi chân cao ráo của các loài chim nước như cò, sếu, khiến chúng có thể đạt chiều cao lên tới 1,3m nhưng thật ra chỉ nặng khoảng 4kg, cho phép chúng vẫn có thể cất cánh bay trên độ cao 3000m. Chim trưởng thành thường có gương mặt không có lông màu đỏ-cam, một bộ lông màu xám chủ đạo nhưng có màu đen trên đỉnh đầu, cánh và đùi.

chim-thu-ky
Gương mặt và phần đầu chim thư ký (JustBirding.com)

Một điều rất thú vị là chim thư ký có cái tên khoa học là Sagittarius serpentariustrong đó, “Sagittarius” nghĩa là “cung thủ” vì dáng đi của chúng được cho là giống như một cung thủ và có lẽ là do chùm lông ống trên đầu của chúng giống với đuôi của những mũi tên và do đó chúng có cùng tên với chòm sao Nhân Mã Sagittarius. Còn “Serpentarius” nghĩa là “con rắn” vì khả năng tiêu diệt loài rắn thượng thừa của chúng và do đó cũng cùng tên với chòm sao Xà Phu Serpentarius. Đây lần lượt là 2 chòm sao Hoàng đạo thứ 12 và 13 và khi ghép lại, tên loài chim này có nghĩa là “cung thủ diệt rắn“.

cung-hoang-dao
Loài chim có cái tên khoa học bắt nguồn từ 2 cung Hoàng đạo
viet-long-chim
Loại viết lông vũ vào thế kỷ 18 (pinterest.com)

Còn tên gọi thông thường của chúng là “secretary bird” có nghĩa là chim thư ký, hay chim bí thư (秘書鳥) cũng bắt nguồn từ việc giải thích chòm lông mào dài trên đầu chúng gợi nhớ đến những cây viết lông ngỗng cắm trên tai của các vị thư ký ở châu Âu vào thế kỷ 18. Cặp chân dài và đôi lông mi cong vút của chúng cũng gợi đến hình ảnh của những cô thư ký văn phòng xinh đẹp và điệu đà. Thật ra chúng có bộ lông mi phát triển chính là để ngăn cản bụi  bay vào mắt do chúng là loài chim săn mồi duy nhất sống chủ yếu trên mặt đất. Một giả thuyết gần đây cho rằng phần tên gọi “secretary” là sự sửa đổi sai lạc trong tiếng Pháp của từ “saqr-et-tair” trong tiếng Ả Rập có nghĩa là “diều hâu của sa mạc“.

chim-thu-ky
Cặp chân dài và hàng mi cong điệu đà của chim thư ký (reddit.com)

Chim thư ký là loài chim săn mồi thuộc họ Ưng duy nhất bắt mồi khi đi hay đang chạy bộ. Chúng tìm thức ăn theo cặp, rải bước cùng nhau khắp địa bàn sinh sống của mình bằng những bước chân dài, chạy theo con mồi bằng tốc độ của mình rồi sau đó giết nạn nhân bằng cách tung những cú đá siêu mạnh và nhanh vào đầu. Đôi chân dài giúp chim thư ký có được cú đá mạnh nhất thế giới động vật, có lực mạnh gấp 5 lần trọng lượng cơ thể của chúng và diễn ra chỉ trong vòng 1/10 một cái chớp mắt của con người.

Thiên nhiên đã thiết kế riêng cho chim thư ký một bộ vũ khí hoàn thiện để tiêu diệt loài rắn độc: khi giao chiến, chúng dang rộng 2 cánh và bộ lông đuôi dài để đánh lạc hướng rắn khỏi đôi chân của mình rồi tung ra những cú đá bất ngờ; đôi chân được bao bọc bằng một lớp vảy cứng để bảo vệ trước những vết cắn chết người và cơ thể của chúng cũng một phần nào đó miễn nhiễm trước nọc độc của rắn. Chim còn có thể dẫm đạp lên lưng rắn một cách bất ngờ từ trên không. Loài chim này có những cách thức săn mồi khác biệt như vậy cũng là do nguồn thức ăn của chúng là những loài vật cũng nhanh nhẹn không kém, thường là các loài thú nhỏ, rắn, côn trùng và thậm chí là linh dương non. Ngoài sức mạnh vượt trội, chúng còn rất khôn ngoan khi còn thường tìm kiếm thức ăn trong các đám cháy rừng, nơi mà chúng có thể tìm thấy những món côn trùng hay thịt nướng miễn phí.

chim-thu-ky
Chim thư ký săn rắn (bbc.com)

Khi chim thư ký bay thì nó trông giống một loài sếu hơn là một con chim săn mồi tuy nhiên dù biết bay, chúng lại thích đi bộ và chạy hơn. Chúng thậm chí là chạy rất nhanh và có thể bao quát một quãng đường dài khoảng 30km mỗi ngày để tìm kiếm thức ăn và chỉ bay về tổ khi trời bắt đầu tối. Chúng làm tổ trên những cây keo (acadia) kết từ cỏ, rơm rác và phân động vật.

chim-thu-ky
Chim thư ký khi bay (AnimalSpot.net)

3. Chim thư ký trong văn hóa 

Chim thư ký đã được con người ngưỡng mộ và yêu mến tại châu Phi từ thời Cổ đại do bề ngoài độc đáo cũng như khả năng tiêu diệt các loài sâu bọ và rắn độc hại của chúng. Các nhà khảo cổ học và điểu học đã tìm thấy hình ảnh của loài chim này trong lăng mộ của nữ hoàng Ai Cập Hatshepsut thuộc triều đại pharaoh thứ 18 (1473 – 1458 TCN), mặc dù trên thực tế Ai Cập không phải là nơi chim thư ký sinh sống. Đây là hình ảnh của những cống phẩm mà các pharaoh Ai Cập nhận được từ các chư hầu xung quanh, trong đó có gỗ mun, vàng, nhựa thơm, ngà voi, da báo, các loài động vật như báo cheetah, hươu cao cổ và cả chim thư ký. Trong số đó, hình ảnh chim thư ký được tìm thấy rất ít, điều này chứng tỏ loài chim này có một giá trị văn hóa rất cao trong xã hội xứ Punt (bao gồm Sudan ngày nay) thời bấy giờ và thuộc vào hàng cống vật hiếm có nhất đối với các pharaoh.

v
Hình ảnh chim thư ký trong lăng mộ nữ hoàng Hatshepsut (animalogic)
Nubia
Một bức bích họa trong hầm mộ pharaoh mô tả cảnh người Phi châu cống nạp lễ vật (twcenter.net)

Với những giá trị tự nhiên và văn hóa mang tính biểu tượng của mình, chim thư ký đã được nhà nước Sudan hiện đại lựa chọn để đại diện cho bản sắc quốc gia (national identity) của mình. Nó còn có ý nghĩa là một biến thể bản địa tại Sudan của biểu tượng Đại bàng SaladinChim cắt Quraysh , những biểu tượng thường được chọn để đại diện cho các quốc gia trong thế giới Hồi giáochủ nghĩa dân tộc Arab. Chim thư ký trở thành biểu tượng quốc gia của Sudan kể từ năm 1970, xuất hiện trên dải giữa màu trắng trên lá cờcon dấu của Tổng thống, các phương tiện chuyên chở Tổng thống Sudan và gia đình, cũng như các huy hiệu quân đội khác của Sudan. Hình ảnh con chim thư ký màu vàng quay đầu sang một bên với chòm lông mào độc đáo được nhìn thấy rõ và đôi cánh xòe rộng tượng trưng cho chiến thắngvinh quang của đất nước. Biểu tượng đầy tự hào này dĩ nhiên là cũng xuất hiện trên các đồng tiền, tem, con dấu… trên khắp đất nước Sudan.

co-tong-thong-sudan
Lá cờ Tổng thống Sudan (wikipedia.org)
chim-thu-ky
Chim thư ký trên đồng tiền Sudan (banknotenews.com)
chim-thu-ky
Chim thư ký trên tem (gulfmannbirds.blogspot.com)

Tại Nam Phi, mặc dù không phải là quốc điểu, nhưng chim thư ký vẫn xuất hiện trên quốc huy mới của nước này vào năm 2000. Ý nghĩa biểu tượng của chim được mở rộng hơn khi nó được xem là loài chim đầy sức mạnhtốc độ, vua của các loài chim tại châu Phi, ngang hàng với chúa sơn lâm sư tử trên mặt đất. Khả năng tiêu diệt rắn độc của chim cũng tượng trưng cho sự bảo vệ đất nước chống lại những kẻ thù của mình. Nó là sứ giả của thiên đường và được Thượng đế gửi xuống trần gian để thực hiện những sứ mệnh cao cả, theo nghĩa này, chim thư ký là một biểu tượng của quyền lực thiêng liêng với ánh vàng tượng trưng cho Mặt trờiquyền lực tối cao. Đôi cánh chim dang rộng hướng lên trên thể hiện sự trỗi dậy của đất nước, đồng thời cũng là một sự bảo bọc, che chở.

quoc-huy-nam-phi
Quốc huy Nam Phi ngày nay (wikipedia.org)

Tài liệu tham khảo:

https://en.wikipedia.org/wiki/Sudan

Archaeology Newsroom. (2018). A secretary bird in the Temple of Hatshepsut. Truy xuất từ https://www.archaeology.wiki/blog/2018/06/27/a-secretary-bird-in-the-temple-of-hatshepsut/

BirdLife International. (2011). The Illustrated Encyclopedia of Birds. London: DK Publishing

Brown, L. & Amadon, D. (1968). Eagles, Hawks, and Falcons of the World. Volume 2. New York: McGraw-Hill

Dean, W.R.J.; Milton, S.J. & Jeltsch, F. (1999). “Large trees, fertile islands, and birds in arid savanna”. Journal of Arid Environments. 41 (1)

Ferguson-Lees, J. & Christie, D. (2001). Raptors of the World. New York: Houghton Mifflin Company

Government Communication and Information System (GCIS). (2000). The National Coat of Arms. Truy xuất từ https://www.sahistory.org.za/article/national-coat-arms

Janzen D. H. (1976). The Depression of Reptile Biomass by large herbivores, American Naturalist, 110(973)

Kemp, A. C. (1994) Family Sagittariidae (Secretarybird) trong del Hoyo J.; Elliott A.; Sargatal J. (chủ biên) Handbook of the Birds of the World, Quyển 2. Barcelona: Lynx Edicions.

Kingfisher. (2014). Bách khoa thư lịch sử. Hà Nội: Nhã Nam

Steyn, P. (1983). Birds of Prey of Southern Africa: Their Identification & Life Histories. Dover, New Hampshire: Tanager Books.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s